Đánh giá tác dụng điều trị của phương pháp cấy chỉ Catgut trên bệnh nhân suy nhược thần kinh thể can thận âm hư
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
“Đánh giá tác dụng điều trị của phương pháp cấy chỉ Catgut trên bệnh nhân suy nhược thần kinh thể can thận âm hư”.
Chủ nhiệm đề tài: Ngô Quang Hùng
Đồng chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thu Hằng
Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành trên 60 bệnh nhân SNTK giai đoạn II (ức chế giảm hưng phấn tăng) tại BVĐKYHCT-HN. Với thiết kế NC thử nghiệm lâm sàng mở so sánh trước và sau ĐT có đối chứng. Bằng phương pháp cấy chỉ Catgut kèm theo uống bài thuốc Lục vị địa hoàng hoàn. Kết quả chung về lâm sàng của nhóm NC được đánh giá sau liệu trình điều trị: Số bệnh nhân có kết quả điều trị rất tốt chiếm tỷ lệ 30%, Số bệnh nhân có kết quả điều trị tốt chiếm tỷ lệ 63,3%, Số bệnh nhân ĐT không kết quả chiếm tỷ lệ 6,7%. Phương pháp cấy chỉ catgut có tác dụng, hiệu quả cao hơn khi so sánh với các phương pháp khác.
Từ khóa: cấy chỉ điều trị, suy nhược thần kinh, cấy chỉ điều trị mất ngủ.
- ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy nhược thần kinh là một bệnh phổ biến trong xã hội, gặp nhiều ở những nước có nền công nghiệp phát triển. Bệnh có liên quan đến các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Là hậu quả gắn liền với các xã hội hiện đại [8], [9].
SNTK giai đoạn ức chế giảm hưng phấn tăng tương ứng với thể can thận âm hư trong YHCT, được miêu tả trong phạm vi nhiều chứng bệnh: kinh quý, kiện vong, huyễn vựng, đầu thống, thất miên… [2], [7].
Phương pháp Cấy chỉ (catgut – embedding) là sự kế thừa y học cổ truyền được phát triển trên nền tảng các trang thiết bị hiện đại đã đem lại hiệu quả to lớn trong điều trị và phòng bệnh.
Với ưu điểm là tiện lợi, chi phí kinh tế thấp, dễ ứng dụng, tiết kiệm thời gian, hiệu quả điều trị cao, điều trị được nhiều bệnh. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài:“Đánh giá tác dụng điều trị của phương pháp cấy chỉ Catgut trên bệnh nhân suy nhược thần kinh thể can thận âm hư”. Nhằm mục tiêu:
- Đánh giá tác dụng điều trị của phương pháp cấy chỉ Catgut trên bệnh nhân suy nhược thần kinh thể can thận âm hư.
- Đánh giá tác dụng không mong muốn của phương pháp.
- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân bị bệnh suy nhược thần kinh giai đoạn II (ức chế giảm hưng phấn tăng). Không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, tuổi đời, được khám và điều trị tại khoa Châm cứu BV Đa khoa YHCT Hà Nội, từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2017.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo YHHĐ [1], [4], [14], [18]:
Chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng của Phân loại Bệnh Quốc tế (ICD-X).
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo YHCT [3], [5], [7], [20]:
Suy nhược thần kinh thể can thận âm hư, được chẩn đoán dựa theo tiêu chuẩn trong tài liệu của khoa Y học cổ truyền trường Đại học Y Hà Nội.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ:
Loại trừ tất cả các bệnh nhân SNTK thể can thận âm hư không phải nguyên nhân tâm lý hoặc có kèm theo các bệnh lý khác.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Khoa Châm cứu BV ĐKYHCT Hà Nội, từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2017.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng, so sánh trước và sau điều trị, có đối chứng.
III. Kết quả nghiên cứu – bàn luận
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
– Số bệnh nhân ở độ tuổi > 60 chiếm tỷ lệ cao nhất (48,3%). Số bệnh nhân ở độ tuổi 51 – 60 chiếm tỷ lệ (21,7%). Số bệnh nhân ở độ tuổi 41 – 50 chiếm tỷ lệ (11,7%). Số bệnh nhân ở độ tuổi 31 – 40 chiếm tỷ lệ (15%). Còn lại số bệnh nhân ở độ tuổi 21 – 30 chiếm tỷ lệ thấp (3,3%). Tuổi trung bình của bệnh nhân là 58,2 ± 14,8. Tuổi thấp nhất 21, tuổi cao nhất 82.
– Cùng ở 2 nhóm số bệnh nhân nữ cao hơn chiếm tỷ lệ 63,3%, số bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 36,7%.
– Số bệnh nhân hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất (50%). Số bệnh nhân lao động trí óc đứng thứ hai, chiếm 25%. Số bệnh nhân lao động chân tay chiếm 13,3%. Số bệnh nhân thất nghiệp chiếm 11,7%
– Số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh trên 24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (36,7%); tiếp đến là số bệnh nhân mắc bệnh từ 3 – 12 tháng chiếm 28,3%; số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh từ 12 đến 24 tháng chiếm 18,3%; ít nhất là số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh < 3 tháng chiếm 16,7%.
– Số các bệnh nhân suy nhược thần kinh thể can thận âm hư do sang chấn tâm lý trường diễn chiếm 83,3%. Số bệnh nhân do sang chấn tâm lý cấp tính chiếm 16,7%.
3.2. Kết quả điều trị
Bảng 3.6. Cảm giác chủ quan trước và sau điều trị của 2 nhóm NC
| Điểm
Nhóm |
Trước Điều trị
X ± SD |
Sau Điều trị
X ± SD |
p |
| Nhóm NC | 10,5 ± 1,3 | 2,4 ± 1,7 | < 0,05 |
| Nhóm ĐC | 10,2 ± 1,1 | 3,3 ± 1,8 | < 0,05 |
| p | > 0,05 | < 0,05 |
Bảng 3.7. Đánh giá chung về kết quả điều trị lâm sàng
| Kết quả điều trị | Nhóm NC | Nhóm ĐC | Tổng | |||
| n | % | n | % | n | % | |
| Rất tốt | 9 | 30,0 | 1 | 3,3 | 10 | 16.7 |
| Tốt | 19 | 63,3 | 15 | 50.0 | 34 | 56.7 |
| Đỡ | 0 | 0,0 | 11 | 36.7 | 11 | 18.3 |
| Không kết quả | 2 | 6,7 | 3 | 10.0 | 5 | 8.3 |
| p | <0,05 | |||||
Bảng 3.8. Trí nhớ ngắn hạn trước và sau điều trị
| Số lượng
Nhóm |
Trước điều trị | Sau điều trị | p | |||||||
| Tốt | Khá | TB | Kém | Tốt | Khá | TB | Kém | |||
| Nhóm NC
(n = 30) |
0 | 0 | 11 | 19 | 10 | 13 | 5 | 2 | < 0,05 | |
| % | 0 | 0 | 36,7 | 63,3 | 33,3 | 43,3 | 16,7 | 6,7 | ||
| Nhóm ĐC
(n = 30) |
0 | 0 | 11 | 19 | 4 | 9 | 14 | 3 | < 0,05 | |
| % | 0 | 0 | 36,7 | 63,3 | 13,3 | 30 | 46,7 | 10 | ||
| p > 0,05 | p < 0,05 | |||||||||
– Nhóm NC: Loại tốt trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 10 BN chiếm tỷ lệ 33,3% (p <0,05). Loại khá trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 13 BN chiếm tỷ lệ 43,3% (p < 0,05).
– Nhóm ĐC: Loại tốt trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 4 BN chiếm tỷ lệ 13,3% (p <0,05). Loại khá trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 9 BN chiếm tỷ lệ 30% (p < 0,05).
– Với cả 2 nhóm: Nhóm NC có 2 BN, nhóm ĐC có 3 BN không thay đổi.
Bảng 3.9. Độ tập trung chú ý trước và sau điều trị
| Số lượng
Nhóm |
Trước điều trị | Sau điều trị | p | |||||||
| Tốt | Khá | TB | Kém | Tốt | Khá | TB | Kém | |||
| Nhóm NC | 0 | 0 | 6 | 24 | 10 | 14 | 4 | 2 | < 0,05 | |
| % | 0 | 0 | 20 | 80 | 33,3 | 46,7 | 13,3 | 6,7 | ||
| Nhóm ĐC | 0 | 0 | 7 | 23 | 2 | 12 | 15 | 1 | < 0,05 | |
| % | 0 | 0 | 23,3 | 76,6 | 6,7 | 40 | 50 | 3,3 | ||
| p > 0,05 | p < 0,05 | |||||||||
– Nhóm NC: Loại tốt trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 10 BN chiếm tỷ lệ 33,3% (p <0,05). Loại khá trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 14 BN chiếm tỷ lệ 46,7% (p < 0,05).
– Bệnh nhân nhóm ĐC. Loại tốt trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 2 BN chiếm tỷ lệ 6,7% (p <0,05). Loại khá trước ĐT 0 BN sau ĐT tăng lên 12 BN chiếm tỷ lệ 40% (p < 0,05).
– Với cả 2 nhóm: Nhóm NC có 2 BN, nhóm ĐC có 1 BN không thay đổi.
Bảng 3.10. Kết quả chung về các trắc nghiệm tâm lý của trước và sau điều trị
| Nhóm NC | Nhóm ĐC | p | ||
| Nhìn nhớ | Trước ĐT
( ± SD) |
3,633 ± 0,49 | 3,633 ± 0,49 | > 0,05 |
| Sau ĐT
( ± SD) |
7,97 ± 0,89 | 6,53 ± 0,86 | < 0,05 | |
| p | < 0,05 | < 0,05 | ||
| Độ tập trung di chuyển chú ý | Trước ĐT
( ± SD) |
3,67 ± 0,80 | 3,77 ± 0,80 | > 0,05 |
| Sau ĐT
( ± SD) |
7,93 ± 0,87 | 6,50 ± 0,68 | < 0,05 | |
| p | < 0,05 | < 0,05 |
Sau điều trị khả năng nhìn nhớ của 2 nhóm bệnh nhân đều tăng:
– Nhóm NC: Khả năng nhìn nhớ: trước ĐT 3,633 ± 0,49; sau ĐT 7,97 ± 0,89. Độ tập trung di chuyển chú ý: trước ĐT 3,67 ± 0,80; sau ĐT 7,93 ± 0,80. Với p < 0,05
– Nhóm ĐC: Khả năng nhìn nhớ: trước ĐT 3,633 ± 0,49; sau ĐT 6,53 ± 0,86. Độ tập trung di chuyển chú ý: trước ĐT 3,77 ± 0,80; sau ĐT 6,50 ± 0,68. Với p < 0,05
- Kết luận
- Hiệu quả điều trị của phương pháp cấy chỉ.
– Cấy chỉ có tác dụng tốt trong điều trị suy nhược thần kinh. Sau 28 ngày điều trị, các triệu chứng lâm sàng trên bệnh nhân giảm rõ: hết đau đầu, cải thiện được giấc ngủ, giảm mệt mỏi, hết chóng mặt, giảm lo âu căng thẳng. Sau điều trị khả năng nhìn nhớ và tập trung di chuyển chú ý đều tăng:
– Tần số mạch và huyết áp động mạch ổn định, sự thay đổi không đáng kể trong quá trình điều trị.
– Phương pháp điều trị an toàn, không có tác dụng không mong muốn trong ĐT.
V. Tài liệu tham khảo
- Bộ môn Sinh lý học Trường Đại học Y Hà Nội (2000), “Sinh lý đau“, Chuyên đề sinh lý học (Tài liệu cho đối tượng sau đại học), tr. 140-155.
- Bộ môn Y học dân tộc Trường Đại học Y Hà Nội (1987), Bài giảng Y học dân tộc, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 106-110, 393-394.
- Hoàng Bảo Châu, Lý Nghị Tồn, Phó Đức Thảo, Lã Quang Nhiếp (1984), “Suy nhược thần kinh”, Châm cứu học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 399-400.
- Hoàng Bảo Châu (1997), Nội khoa học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 121-145, 177-189, 475-183, 586-600.
- Lê Hải Chi, Đào Xuân Bộ, Vũ Ngọc Kim (1980), “Nhận xét bước đầu về tác dụng của châm cứu trên một số triệu chứng bệnh loạn tâm thần”, Tạp chí Thần kinh, Tinh thần và Phẫu thuật thần kinh, 1, tr. 58-64.
- Đaviđencôp S.N. (1968), Loạn thần kinh chức năng, Nhà xuất bản Matxcơva, tr. 9-85.
- Nguyễn Đạt (1994), “Điều trị bệnh suy nhược thần kinh bằng phương pháp Y học dân tộc”, Tạp chí Y học cổ truyền dân tộc Việt Nam, 191, tr. 89.
- Ferreri M. (1997), Sinh lý học stress, Stress từ bệnh học tâm thần đến các tiếp cận trong điều trị, tr. 21-24.

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!